Sân ĐìnhTrò chơi · Nếp nhà · Truyện kể

Miếng trầu là đầu câu chuyện

Trầu, cau và vôi là thứ người xưa mời nhau khi bắt đầu mọi câu chuyện, và đến nay vẫn không thể thiếu trong lễ ăn hỏi.

Dịp
Cưới hỏi, lễ tết, khách đến nhà
Vùng miền
Cả nước

Các bước

  1. Chọn lá trầu đẹp, lau khô. Bổ cau thành từng miếng vừa.
  2. Phết một chút vôi lên lá trầu, gấp lá lại thành miếng trầu.
  3. Muốn đẹp thì têm trầu cánh phượng: cắt tỉa lá trầu rồi gấp thành hình cánh chim trước khi têm.
  4. Bày trầu cau ra đĩa, mời khách bằng hai tay.
  5. Trong lễ ăn hỏi, trầu cau được xếp thành tráp, là lễ vật đầu tiên nhà trai mang sang nhà gái.

Từ nhà tranh đến cung điện

Miếng trầu mở đầu câu chuyện, mở đầu cuộc hỏi vợ, mở đầu buổi tiếp khách. Bộ đồ ăn trầu trong cung đình nhà Nguyễn làm bằng vàng bạc chạm trổ, còn ở nhà quê chỉ là chiếc cơi trầu bằng gỗ. Cùng một tục, hai mức sang hèn.

Nay còn gì

Người ăn trầu giờ rất ít, phần lớn là các cụ bà. Nhưng trầu cau vẫn còn nguyên chỗ đứng trong lễ ăn hỏi, trong mâm cúng, trong đám giỗ.

Một lưu ý cho người lớn: trầu cau là chuyện của người lớn, trẻ em không ăn trầu. Với trẻ, hãy dừng ở việc têm trầu cho khéo và nghe Sự tích trầu cau.

Sách xưa ghi

Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, in năm 1915

Trầu cau lại là một thứ đầu các sự lễ nghĩa. Phàm việc tế tự, tang ma, việc cưới xin, việc vui mừng, việc gì cũng lấy miếng trầu làm trọng. Tế tự thường khi dùng cả buồng cau để lễ, cưới xin nhà gái thường ăn của nhà trai vài ba ngàn quả, để chia phần cho bà con.

Dân thôn ai có việc gì đến nhà người tôn trưởng, hoặc vào cửa quan, cũng đem buồng cau vào là quí. Nhà tư gia cúng giỗ tổ tiên tất phải có cơi trầu. Khách đến chơi nhà, phải có trầu cau thết đãi.

Phong tục xã hội · chương XLI. Ăn trầu · Đọc cả chương

Hơn trăm năm sau

Ngày nay ít người còn ăn trầu hằng ngày, nhưng buồng cau, cơi trầu vẫn đứng đầu trong lễ ăn hỏi, lễ cưới và mâm cúng.

Trích nguyên văn, giữ chính tả bản in năm 1915. Sách đã thuộc phạm vi công cộng. Về cuốn sách này

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo khảo sát phong tục, tập quán và nghi lễ ở Việt Nam; Việt Nam phong tục (Phan Kế Bính, 1915); Tư liệu Nhà Trưng Bày của Sân Đình