Sự tích đá Vọng Phu
Giọng đọc Huy, tạo bằng AI · bấm vào đoạn nào để nghe từ đoạn đó
Trước khi kể: Đây là truyện buồn, có chi tiết hai anh em ruột thất lạc từ nhỏ rồi vô tình lấy nhau. Nên kể cho trẻ từ mười tuổi trở lên, và nói rõ rằng cả hai đều không hề biết sự thật. Với trẻ nhỏ hơn, chỉ cần kể phần người vợ bồng con lên núi ngóng chồng rồi hoá đá.
Ngày xưa có hai anh em mồ côi sống với nhau trong một túp lều ven núi, anh chừng mười một mười hai tuổi, em gái mới lên bảy. Một hôm hai anh em chơi trò chặt củi, người anh vung dao trượt tay, lưỡi dao bổ trúng đầu em. Máu chảy đầm đìa, em ngã lăn ra bất tỉnh.
Người anh hoảng sợ, cho rằng mình đã giết em, liền bỏ chạy một mạch, chạy mãi ra khỏi vùng, không dám ngoái lại. Cậu đi ở cho người ta, rồi theo thuyền buôn, lênh đênh hết bến này sang bến khác. Còn cô em, may mắn được hàng xóm cứu chữa, vết thương lành nhưng để lại một cái sẹo dài trên đầu, tóc mọc che kín đi.
Nhiều năm trôi qua. Người anh nay đã thành một người đàn ông từng trải, làm nghề buôn bán đường biển, dừng chân ở một làng chài miền Trung. Ở đó, anh gặp một cô gái hiền lành, mồ côi, không còn ai thân thích. Hai người thương nhau rồi nên vợ nên chồng. Họ dựng một căn nhà nhỏ nhìn ra biển, sinh được một đứa con trai kháu khỉnh. Người chồng đi biển, người vợ ở nhà dệt vải, nuôi con. Cả làng khen là một nhà đầm ấm.
Một buổi trưa nắng, người vợ ngồi trước hiên gội đầu cho khô tóc. Người chồng ngồi cạnh bế con, nhìn sang thì thấy trên đầu vợ có một vết sẹo dài. Anh hỏi, vợ kể lại chuyện ngày bé: ở vùng núi nọ, có người anh trai lỡ tay bổ dao vào đầu rồi sợ quá bỏ đi, từ đó bặt tin, chị tìm mãi không thấy.
Người chồng nghe xong, tay chân rụng rời. Anh nhận ra người vợ mình bấy lâu chính là đứa em gái năm xưa. Anh không dám nói ra, sợ vợ biết rồi không sống nổi. Mấy hôm sau, anh bảo vợ rằng có chuyến thuyền đi xa, phải đi vài tháng mới về. Anh ôm con thật lâu, rồi xuống thuyền, và không bao giờ trở lại nữa.
Người vợ ở nhà chờ chồng. Hết mùa gió này sang mùa gió khác, cứ có thuyền về là chị lại bồng con chạy ra bến hỏi thăm. Rồi chị bế con trèo lên đỉnh núi cao nhất làng, chỗ nhìn ra được cả một vùng biển rộng, đứng đó ngóng về phía chân trời. Chiều nào cũng vậy, nắng cũng như mưa.
Một buổi chiều giông gió, người làng lên núi tìm thì thấy hai mẹ con đã hoá thành đá. Người mẹ vẫn đứng thẳng, bồng đứa con bên hông, mặt hướng ra biển.
Từ đó, người ta gọi hòn đá ấy là đá Vọng Phu, nghĩa là ngóng chồng. Lạ thay, không chỉ một nơi, mà ở nhiều tỉnh ven biển và miền núi nước ta, hễ có ngọn núi nào trên đỉnh nhô lên một khối đá giống hình người đàn bà bế con, người dân quanh vùng lại kể một câu chuyện tương tự và gọi đó là hòn Vọng Phu. Nổi tiếng nhất là nàng Tô Thị ở Lạng Sơn, trong câu ca ai cũng thuộc:
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Kể xong, hỏi con
- Vì sao người chồng lại bỏ đi mà không dám nói thật với vợ?
- Người vợ đã chờ chồng như thế nào?
- Ở quê con hoặc nơi con từng đi qua có hòn núi nào mang tên Vọng Phu không?
Dị bản
Hòn Vọng Phu có ở nhiều nơi: Lạng Sơn (nàng Tô Thị), Bình Định, Thanh Hoá, Đắk Lắk. Có bản kể người chồng đi lính, có bản kể đi buôn đường biển, có bản kể chỉ đi rồi không bao giờ trở lại.
Nguồn: Tham khảo: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), truyện số 32, tập I; Truyện gắn với các hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hoá, Bình Định. Bản kể do Sân Đình biên soạn lại.