Sân ĐìnhTrò chơi · Nếp nhà · Truyện kể

Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho

Ngày xưa có hai vợ chồng nghèo đến mức không có lấy một mái nhà, phải dắt nhau đi ăn xin, tối đến ngủ nhờ dưới mái hiên đình làng. Người chồng tên là Thạch Sùng.

Một năm, trời làm hạn rồi lại làm lụt. Từ mấy tháng trước, Thạch Sùng đã để ý thấy kiến tha trứng lên cao, thấy chuồn chuồn bay thấp lạ thường, lại thấy mấy cây tre trước đình ra hoa. Anh đoán sắp có năm mất mùa lớn. Bao nhiêu tiền xin được, anh không mua áo mới, cũng không mua thức ngon, mà đem đong gạo, đong muối, tích vào những chiếc chum vại xin được của người ta, giấu kỹ trong một góc nhà hoang.

Quả nhiên năm ấy nước lên trắng đồng, lúa má mất sạch. Người trong vùng đói, đem vàng bạc, trâu bò, ruộng vườn ra đổi lấy gạo. Thạch Sùng mở chum gạo ra bán. Chỉ sau một mùa đói, anh từ kẻ ăn mày trở thành người có của ăn của để. Có vốn rồi, anh buôn bán ngược xuôi, càng buôn càng trúng, chẳng mấy chốc thành người giàu nhất vùng. Nhà cao cửa rộng, kẻ ăn người ở đầy sân, vàng bạc chất trong kho không đếm xuể.

Giàu rồi, Thạch Sùng đâm ra thích khoe. Yến tiệc trong nhà bát đĩa toàn đồ quý, đũa bịt bạc, bát bịt vàng, khách đến ăn xong lau tay bằng lụa rồi vứt đi. Tiếng tăm đồn xa, đến tai một người giàu khác trong vùng tên là Vương Khải, vốn là chỗ quyền quý, xưa nay vẫn tự cho mình nhất thiên hạ.

Hai bên gặp nhau, nói qua nói lại rồi thách nhau thi của. Giao ước rất rõ: mỗi bên lần lượt kể một thứ mình có trong nhà, bên kia phải có thứ ấy mới được đi tiếp; ai không có thì thua, mất cả gia tài về tay người thắng.

Cuộc thi bày ra giữa đình làng, người xem chật cả sân. Vương Khải đem ra chậu vàng, Thạch Sùng cũng có chậu vàng. Vương Khải khoe màn gấm, Thạch Sùng trải màn gấm dài gấp đôi. Nào san hô, nào ngà voi, nào ngựa quý, nào lụa là, bên này có gì bên kia cũng có nấy, kéo suốt mấy ngày mà chưa phân thắng bại. Của cải trong hai nhà bày ra sáng loá cả một vùng.

Đến lúc gần như đã hết những thứ có thể kể, Vương Khải ngồi nghĩ rất lâu, rồi hỏi một câu chẳng ai ngờ:

— Nhà ông có cái mẻ kho không?

Cái mẻ kho chỉ là một mảnh nồi đất vỡ, nhà nghèo nào cũng có, dùng để kho cá, kho tép cho đượm. Trong dinh cơ của Thạch Sùng, mọi thứ đều bằng vàng bạc, sứ quý, chẳng ai giữ lại một mảnh sành sứt mẻ làm gì. Người nhà chạy đi lục khắp bếp, khắp kho, khắp vườn, không tìm ra lấy một cái.

Thạch Sùng thua. Theo đúng giao ước, toàn bộ gia tài phải sang tay người khác. Chỉ trong một buổi, người giàu nhất vùng trở lại tay trắng như ngày còn ngủ hiên đình.

Tiếc của quá, Thạch Sùng phát ốm rồi chết. Người ta kể rằng ông hoá thành con thạch sùng, con vật nhỏ bò trên tường nhà, đêm đêm cứ chắt lưỡi từng tiếng “tặc, tặc” nghe tiếc rẻ, như vẫn còn tiếc cái mẻ kho năm nào.

Từ đó, khi thấy ai được cái nọ thiếu cái kia, hoặc gần xong việc mà hỏng vì một chuyện cỏn con, người ta hay nói: “Giàu như Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho.”

Kể xong, hỏi con

  • Thạch Sùng đã giàu lên bằng cách nào?
  • Vì sao nhà giàu nứt đố đổ vách mà lại không có nổi một cái mẻ kho?
  • Con hiểu câu "thiếu mẻ kho" người ta hay nói nghĩa là gì?

Dị bản

Tên truyện trong nhiều sách là "Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối". Có bản kể Thạch Sùng hoá thành con thạch sùng tặc lưỡi trên tường, có bản kể hoá thành con mối gặm gỗ.

Nguồn: Tham khảo: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), truyện số 36, tập I; Truyện kể dân gian lưu truyền cùng thành ngữ "thiếu mẻ kho". Bản kể do Sân Đình biên soạn lại.