Trạng Hiền
Giọng đọc Huy, tạo bằng AI · bấm vào đoạn nào để nghe từ đoạn đó
Ngày xưa ở làng Dương A có cậu bé tên là Nguyễn Hiền, cha mất sớm, hai mẹ con nương tựa nhau, nghèo đến mức không có tiền cho con đi học.
Trong làng có một ông thầy đồ mở lớp. Hiền không được vào lớp, ngày ngày ra đứng ngoài vách nghe lỏm. Thầy giảng câu nào, cậu nhẩm thuộc câu ấy. Không có giấy bút, cậu lấy que vạch chữ xuống nền đất, lấy gạch non viết lên sân, lên lá chuối. Học trò trong lớp thuộc một thì cậu thuộc mười.
Thầy đồ để ý, gọi vào hỏi thử mấy câu. Cậu bé đáp trôi chảy, lại hỏi ngược thầy mấy điều khiến thầy phải ngẫm nghĩ. Thầy tiếc tài, nhận dạy không lấy tiền.
Nhưng Hiền vẫn là đứa trẻ con. Học xong là chạy ra bãi chơi với lũ trẻ chăn trâu, nặn voi đất, bắt cua bắt ốc, nghịch chẳng kém ai. Người ta kể cậu nặn voi bằng đất, lấy đỉa làm vòi, lấy bướm làm tai, lấy cua làm chân, con voi đất cứ thế ngọ nguậy chạy được, cả bọn trẻ vỗ tay reo ầm cả bãi.
Năm mười hai tuổi, Hiền đi thi. Bài làm của cậu khiến các quan trường sửng sốt. Đến kỳ thi đình, cậu đỗ đầu, thành trạng nguyên.
Vua cho vời vào cung. Nhìn thấy vị tân khoa trạng nguyên là một đứa bé con, áo quần lụng thụng, đứng chưa cao đến ngực các quan, vua hỏi:
— Trạng học ở đâu ra mà tài vậy?
Cậu bé đáp gọn lỏn:
— Thưa, thần học lỏm là chính, thêm mấy chữ của thầy trong làng.
Vua thấy cậu đối đáp cộc lốc, chưa thạo lễ nghi chốn triều đình, bèn bảo về quê học lễ mấy năm rồi hãy ra làm quan.
Hiền lại về làng, lại chăn trâu, thả diều, đọc sách dưới gốc cây.
Ít lâu sau, sứ phương Bắc sang, đưa ra một câu đố để thử người nước Nam. Bốn câu ấy nói về một chữ:
Hai mặt trời bằng đầu nhau
Bốn quả núi lộn ngược lộn xuôi
Hai ông vua tranh nhau một nước
Bốn cái miệng ngang dọc ở trong.
Cả triều đình ngồi nghĩ mãi không ra. Vua nhớ đến vị trạng nguyên bé con ngày trước, liền sai một viên quan về làng mời.
Viên quan tìm đến đầu làng, thấy một lũ trẻ đang chơi ngoài bãi. Không biết đứa nào là trạng, ông thử ra một vế cho cả bọn:
— Tự là chữ, cất giằng đầu, tử là con, con ai con ấy?
Một cậu bé mặt lấm lem đất ngẩng lên đối lại ngay:
— Vu là chưng, bỏ ngang lưng, đinh là đứa, đứa nào đứa này?
Viên quan biết đã gặp đúng người. Ông truyền ý vua mời về kinh. Nhưng Nguyễn Hiền lắc đầu:
— Khi trước vua bảo tôi chưa biết lễ. Nay vua cho người đến mời mà cũng chưa đủ lễ, vậy hoá ra vua cũng chưa biết lễ.
Viên quan về tâu lại. Vua phải sai người mang đủ nghi lễ, võng lọng đến rước. Bấy giờ ông mới chịu đi.
Vào đến triều, nghe đọc bốn câu đố, ông chỉ cười, cầm bút viết ra một chữ: chữ điền, nghĩa là thửa ruộng. Chữ ấy viết bằng chữ Hán, nhìn ngang nhìn dọc đều thấy đúng cả bốn câu: hai chữ nhật bằng đầu nhau, bốn chữ sơn chụm lại, hai chữ vương gác lên nhau, bốn cái ô vuông xếp trong một khung.
Sứ giả phương Bắc phục lăn. Từ đó, dân gian gọi ông là Trạng Hiền, và mỗi lần nhắc đến ông, người ta lại nhắc rằng ông đỗ trạng khi còn là một cậu bé chăn trâu.
Kể xong, hỏi con
- Nguyễn Hiền học bằng cách nào khi nhà không có tiền cho đi học?
- Vì sao vua lại cho cậu về quê dù đã đỗ trạng nguyên?
- Bốn câu đố của sứ giả chỉ vào chữ gì? Con thử hình dung chữ ấy xem.
Dị bản
Nguyễn Hiền là người có thật, quê làng Dương A, nay thuộc Nam Định, đỗ trạng nguyên khoa năm 1247 đời Trần Thái Tông. Quanh ông có nhiều giai thoại; một số giai thoại về tài ứng đối cũng được kể cho Mạc Đĩnh Chi hoặc cho em bé thông minh trong truyện cổ tích.
Nguồn: Tham khảo: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), truyện số 80, tập II; Giai thoại dân gian về Trạng nguyên Nguyễn Hiền. Bản kể do Sân Đình biên soạn lại.